Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2013

Thế giới và vấn đề phát triển thủy điện

Theo Hội đồng Năng lượng Quốc tế (WEC), thủy điện đang đóng góp 20% tổng công suất điện năng trên toàn thế giới, tương đương 2.600 TWh/năm. Với các lợi thế như: không tiêu thụ nhiên liệu, không xả ra khí thải độc hại, tuổi thọ các nhà máy thuỷ điện lớn… Tuy nhiên, sau một thời gian dài phát triển, nguồn năng lượng vốn được đánh giá là sạch này đang dần bộc lộ những tác hại khôn lường cho cả môi trường tự nhiên lẫn con người.
Nguồn điện quan trọng và đầy tiềm năng của con người
Từ hơn 2.000 năm trước, người Hy Lạp cổ đại đã biết khai thác sức nước bằng việc sử dụng các bánh xe guồng nước để xay gạo. Năm 1880, nhà phát minh người Mỹ Lester A. Pelton khám phá ra nguyên lý phát điện từ sức nước trong một chuyến thăm mỏ khai thác vàng gần nhà. Những người thợ mỏ đã đặt các guồng quay bằng gỗ bên dòng suối. Nước chảy làm quay trục guồng, từ đó làm quay những chiếc cối xay đá sa khoáng chứa vàng.
Do nắm rõ nguyên lý phát điện từ những chiếc trục quay, không khó để nhà khoa học này thay chiếc guồng gỗ bằng mộtmáy phát điện. Chỉ hai năm sau, nhà máy thủy điện đầu tiên trên thế giới được H.J. Rogers xây dựng tại bang Wisconsin (Hoa Kỳ), mở ra một kỷ nguyên thủy điện cho nhân loại.
Nếu như nhiệt điện phải đốt nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí đốt) gây ô nhiễm môi trường, còn điện hạt nhân luôn khiến con người vừa dùng vừa run vì lý do an toàn, thì thủy điện được coi là nguồn năng lượng sạch nhất và an toàn nhất. Lợi dụng sức mạnh của dòng nước đổ xuống từ trên cao để làm quay các tua bin, từ đó sản sinh ra điện, thủy điện không cần đến nhiên liệu hay chất phóng xạ. Do đó, những quốc gia có địa hình thuận lợi cho việc phát triển thủy điện đều tận dụng tối đa cơ hội của mình. Các nhà máy thủy điện được xây dựng khắp nơi trên thế giới, với đủ mọi loại công suất từ lớn đến nhỏ.
Theo Hội đồng Năng lượng Quốc tế (WEC), thủy điện đang đóng góp 20% tổng công suất điện năng trên toàn thế giới, tương đương 2.600 TWh/năm. Na Uy là nước mà 100% điện năng được sản xuất từ thủy điện. Những nước có thủy điện chiếm hơn 50% cũng rất nhiều, như: Icela (83%), Áo (67%). Canada hiện là nước sản xuất thủy điện lớn nhất thế giới, với tổng công suất gần 400 nghìn GWh, đáp ứng hơn 70% nhu cầu nước này. Tiềm năng của nguồn điện xanh này còn rất lớn, bởi WEC đã ước tính, trên toàn cầu, công suất thủy điện có thể đạt đến 14.400 TWh/năm.
Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là không tiêu thụ nhiên liệu và xả ra khí thải độc hại. Điều đó khiến chúng không hề bị ảnh hưởng bởi sự tăng giá không ngừng của nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí thiên nhiên hay than đá. Các nhà máy thuỷ điện cũng có tuổi thọ lớn hơn các nhà máy nhiệt điện.
Một số nhà máy thuỷ điện đang hoạt động hiện nay trên thế giới đã được xây dựng từ 50 - 100 năm trước. Chi phí nhân công thấp vì các nhà máy này được tự động hoá gần như hoàn toàn, có rất ít người làm việc tại chỗ trong quá trình vận hành thông thường.
Những nhược điểm của thủy điện
Cùng với những lợi ích to lớn, qua thời gian, các mặt trái của thủy điện cũng liên tục được bộc lộ. Thật nực cười là đặc điểm được ca ngợi nhiều nhất của thủy điện cũng lại chính là nhược điểm lớn nhất của nó: Môi trường. Thủy điện không tiêu thụ nhiên liệu, không xả ra khí thải độc hại với môi trường, nhưng nó cũng tàn phá nặng nề môi trường sinh thái ở một số phương diện khác.
Do hoạt động nhờ biến thế năng của nước thành động năng, từ đó chuyển thành điện năng, nên nhà máy thủy điện thường được đặt trên phía thượng nguồn, thuộc vùng đồi núi và phải có hồ chứa nước. Những hồ chứa bao la này nhấn chìm rất nhiều diện tích rừng đầu nguồn. Đặc điểm sinh thái, cảnh quan thiên nhiên của cả khu vực bị biến đổi theo hướng xấu đi.
Môi trường sống của các loài động thực vật bị phá hủy hoặc thay đổi khiến chúng cũng dần biến mất. Yếu tố đa dạng sinh học gần như không còn. Các con đập khiến nước không còn được lưu thông một cách tự do từ thượng nguồn xuống hạ lưu, tạo nên các đoạn sông chết trước con đập. Thảm thực vật bị phân hủy trong tình trạng ngập nước dưới đáy hồ khiến sản sinh ra khí metan, một loại khí nhà kính nguy hiểm.
Nếu cá không chết bởi những loại khí độc như thế, thì chúng cũng chết khi đi qua các tua bin nước. Theo thống kê của Quỹ Hoang dã Quốc tế (WWF), 60% trong số 227 con sông lớn nhất đã bị phân đoạn nặng nề, trong đó các đập nước (gồm có đập thủy điện) được xem là có trách nhiệm lớn nhất.
Từ cách xa công trình hàng trăm kilomet, những người dân vùng hạ lưu cũng trở thành nạn nhân. Các con đập đã ngăn chặn mất của họ dòng phù sa màu mỡ và các loài thủy sản. Mặc dù có chức năng điều tiết lũ và chống hạn hán, nhưng các nhà máy thủy điện thường tích xả nước trước tiên là vì lợi nhuận và sự an toàn của chính bản thân mình.
Những vụ xả hồ chứa bất ngờ để chống quá tải đập trước một cơn lũ bất ngờ (hoặc do dự báo kém chính xác) gây lũ lụt cho toàn vùng hạ lưu, cuốn trôi nhà cửa, tài sản, hoa màu và cướp đi sinh mạng của nhiều người. Đối với người dân vùng hạ lưu, các hồ chứa hàng triệu, trăm triệu, thậm chí hàng tỷ mét khối nước trên thượng nguồn thực sự là những trái bom lơ lửng trên đầu. Ngược lại, vào những năm hạn hán, nước đầu nguồn bị tích lại trong các hồ chứa khiến vùng hạ lưu cạn khô nước sinh hoạt và sản xuất, đẩy người dân đối mặt với vô vàn khó khăn.
Danh sách tội trạng của thủy điện mỗi năm một dài thêm. Ngày 12/5/2008, một trận động đất mạnh 7,8 độ richter xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) khiến gần 100 nghìn người chết hoặc mất tích. Hai phần ba tỉnh thủ phủ vùng Tây Nam Trung Quốc này bị phá hủy hoàn toàn. Thảm họa này một lần nữa củng cố cho quan điểm của các nhà khoa học về việc thủy điện là nguyên nhân gây ra động đất. Tâm chấn của trận động đất Tứ Xuyên nằm khá gần 2 nhà máy thủy điện lớn của nước này là Tam Hiệp và Zipingpu. Hàng tỉ mét khối nước trong hồ chứa của các thủy điện này đã tạo áp lực cực lớn lên địa tầng khu vực, khiến đới đứt gẫy địa chất hoạt động, gây ra trận động đất kinh hoàng.
Các tranh cãi vẫn còn tiếp tục, nhưng có một thực tế không thể phủ nhận rằng, cho dù không gây ra động đất, nhưng một khi động đất xảy ra, các đập thủy điện vỡ sẽ khiến toàn vùng hạ lưu biến thành biển nước trong vài giờ. Không nhiều người có cơ may sống sót trong những thảm họa như thế.
KEYTECH
Theo NLVN

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Công nghệ thông tin và truyền thông cho phép giảm 30% lượng điện tiêu thụ

Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) cho phép giảm 30% lượng điện tiêu thụ tại các thành phố. Đây là một dự án nghiên cứu của Trường Đại học Universidad Carlos III of Madrid (UC3M). Các kết quả đã được trình bày sau khi phân tích sự tối ưu hóa việc sử dụng điện của người dân và cơ sở hạ tầng.  
Dự án có tên ENERsip được thực hiện bởi liên minh 10 đối tác đến từ 5 quốc gia ở châu Âu do Công ty Tecnalia, Tây Ban Nha đứng đầu. Các nhà nghiên cứu đã thiết kế, phát triển và thông qua một nền tảng công nghệ thông tin cho phép người sử dụng điện tiết kiệm đến 30% lượng điện tiêu thụ, bên cạnh đó họ cũng tích hợp các ứng dụng cài đặt để sử dụng năng lượng tái tạo, chẳng hạn như các tấm quang điện năng lượng mặt trời được lắp đặt trên mái nhà.
Chìa khóa để có được những kết quả này nằm ở hai chiến lược: giảm lượng điện tiêu thụ trong nhà (khoảng 15 đến 20%) và điều chỉnh mức tiêu thụ, phát điện trong các thành phố, quận, huyện (khoảng 15 đến 20%). Đầu tiên, hệ thống cung cấp cho người sử dụng các thông tin liên quan đến việc tiêu thụ điện của họ, cho phép họ xác định các thiết bị sử dụng nhiều năng lượng nhất, sau đó đề xuất các giải pháp khả thi, cố gắng thay đổi một số hành vi và hướng dẫn thực hành tốt việc sử dụng điện; điều đó cho phép người sử dụng tiết kiệm hóa đơn tiền điện hàng tháng.
Giáo sư José Ignacio Moreno của UC3M giải thích: “Bằng cách này, nền tảng ENERsip cho phép các thiết bị tiêu thụ điện được theo dõi bởi mạng lưới cảm biến và cơ cấu chấp hành để người sử dụng có thể điều khiển từ xa bằng các ứng dụng trên internet”.
Ngoài ra, hệ thống mà các nhà nghiên cứu đã thiết kế có khả năng tự động chuyển đổi sang sử dụng nguồn năng lượng tái tạo trong phạm vi thành phố, quận, huyện; do đó làm giảm dòng năng lượng và kết quả làm giảm năng lượng tổn thất và chi phí.
Dự án này cũng nhằm mục tiêu hướng đến việc quản lý lưới điện thông minh và hiệu quả bằng cách sử dụng công nghệ thông tin, tiết kiệm lượng điện tiêu thụ lên đến 30%. Để có được những kết quả này, các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm trên các hệ thống máy tính mô phỏng khác nhau và thí điểm trong ba tòa nhà khác nhau ở Israel.
Theo báo cáo của dự án 2020 SMART, người ta ước tính rằng các ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng có thể giúp tiết kiệm được khoảng 600 tỷ Euro trên toàn cầu trong năm 2020.
KEYTECH
Theo NLVN

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Nhà máy xử lý rác, thu hồi khí phát điện

Dự án "Nhà máy xử lý rác, thu hồi khí phát điện tại bãi chôn lấp Khánh Sơn, Đà Nẵng" sẽ tạo ra một lượng điện năng lớn phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, giảm thiểu phát thải khí nhà kính và tiết kiệm năng lượng.  
Trong khuôn khổ hội thảo báo cáo kết quả nghiên cứu tiền khả thi của dự án được tổ chức mới đây tại TP Đà Nẵng, các đại biểu đã đánh giá cao nỗ lực và kết quả thực hiện của đơn vị tư vấn, đồng thời hy vọng dự án sẽ sớm thực hiện bước nghiên cứu tiếp theo để triển khai vào thực tế.
Bãi rác Khánh Sơn hiện tại - Ảnh: Nguồn Internet.
Trung tâm phát triển năng lượng (EDEC) là đơn vị được chọn thực hiện dự án này. Bà Sylvie Lam, Phó giám đốc EDEC cho hay, với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực phát triển năng lượng sạch và môi trường, dự án không chỉ dừng lại ở việc xử lý rác thu hồi khí phát điện, sản xuất phân compost phục vụ nhu cầu nông nghiệp, mà còn bao quát những hoạt động khác như tái sinh, tái chế lượng chất thải còn lại… Tất cả nhằm xử lý triệt để toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt của Đà Nẵng.
Theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đà Nẵng vừa được thông qua vào tháng 10 vừa qua, dự kiến đến năm 2030, dân số Đà Nẵng sẽ phát triển lên tới 2,5 triệu người, chưa kể lượng khách du lịch khá lớn hàng năm. Như vậy, lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom có thể lên tới 2.000 tấn một ngày, trong đó 85 - 90% khối lượng này có thể sử dụng làm nguồn cung cấp cho nhà máy xử lý của dự án.
Với việc ứng dụng công nghệ hiện đại của Aikan (Đan Mạch), dự án sẽ hạn chế tối đa lượng rác cần chôn lấp hoàn toàn, giúp kéo dài tuổi thọ của bãi rác Khánh Sơn đến năm 2070, thay vì phải đóng cửa vào năm 2020 như thiết kế ban đầu. Ngoài ra, dự án sẽ biến khu vực này thành địa điểm xây dựng những công trình năng lượng sạch như nhà máy phát điện mặt trời, hay khu du lịch sinh thái sau khi bãi rác ngừng hoạt động.
Mô hình Nhà máy xử lý rác thải theo công nghệ Aikan (Đan Mạch) - Ảnh: Nguồn Internet.
Bà Sylvie Lam cho hay, công nghệ Aikan (Đan Mạch) được sử dụng trong dự án chỉ tiêu thụ trung bình 10 kWh điện để xử lý một tấn rác hữu cơ. Lượng rác hữu cơ này lại tạo ra khoảng 70-100 m3 khí sinh học (trong đó khí Mêtan chiếm tối thiểu 70%), dùng để sản xuất xấp xỉ 200 kWh điện, 1.400 MJ nhiệt và 350 kg phân compost. Như vậy, năng lượng tạo ra từ công nghệ Aikan không những phục vụ nhu cầu của nhà máy, mà còn có thể nối vào lưới điện quốc gia để cung cấp cho thành phố Đà Nẵng.
Qua kết quả nghiên cứu và đánh giá khả thi, các đại biểu tham gia hội thảo cho rằng, dự án không những góp phần tạo ra một lượng điện năng lớn phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, mà còn giúp giảm thiểu phát thải khí nhà kính có tác dụng xấu đến biến đổi khí hậu. Mặt khác, dự án sẽ tiết kiệm được năng lượng, hướng tới sử dụng năng lượng sạch trong tương lai... thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Với việc xây dựng một nhà máy xử lý rác theo công nghệ châu Âu phù hợp với các điều kiện rác, khí hậu, môi trường tại Việt Nam, Khánh Sơn sẽ trở thành nhà máy xử lý rác hiện đại bậc nhất cả nước.
KEYTECH
Theo Tietkiemnangluong

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Năng lượng thế giới 2012

Các chuyên gia hạt nhân và địa chất cảnh báo trong tương lai, có ít nhất 32 nhà máy ở châu Á đang hoạt động hoặc đang được xây dựng có nguy cơ hứng chịu sóng thần, đặc biệt là 4 nhà máy điện hạt nhân ở phía nam Trung Quốc đại lục và một nhà máy trên đảo Đài Loan (Trung Quốc).
Mất điện lớn nhất trong lịch sử loài người ở Ấn Độ làm hé lộ một bức tranh an ninh năng lượng u ám của nền kinh tế lớn thứ 3 châu Á

1. Thiên tai đe dọa an ninh năng lượng toàn cầ
u
Trong năm 2012, nước Mỹ phải hứng chịu nhiều cơn bão lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình cung cầu năng lượng trong nước và ảnh hưởng biến động giá dầu trên thị trường thế giới. Tiêu biểu là siêu bão Sandy đã tràn vào bờ biển Mỹ trải dài từ bang West Virginia tới North Carolina và Connecticut hồi cuối tháng 10. Hơn 8,5 triệu gia đình và doanh nghiệp trên 16 tiểu bang nước Mỹ bị mất điện sau khi cơn bão mạnh nhất trong lịch sử 100 năm qua tấn công Hoa Kỳ với mưa to và gió lớn đã giật đứt các đường dây điện, nhấn chìm các mạng lưới điện trong nước lũ và gây nổ một trạm biến áp ở hạ Manhattan, New York. Thiệt hại từ cơn bão cũng làm dấy lên quan ngại về sự lão hóa của cơ sở hạ tầng cung cấp năng lượng trên toàn nước Mỹ. Hiện nay, nhiều tiểu bang vẫn đang ra sức sửa chữa, nâng cấp, cải tạo hệ thống phân phối điện để đáp ứng với các sự cố thiên tai khủng khiếp kiểu này.
2. Mỹ sẽ trở thành nước khai thác dầu lớn nhất thế giới trong tương lai
Trong bản báo cáo đánh giá năng lượng hằng năm, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) đã dự báo Mỹ sẽ vượt Arập Xêút và Nga vào năm 2017 để trở thành quốc gia khai thác dầu lớn nhất thế giới. Theo báo cáo của IEA, lượng dầu nhập khẩu của Mỹ hiện chiếm khoảng 20% nhu cầu tiêu thụ nội địa, nhưng đến năm 2035, nền kinh tế lớn nhất thế giới có thể đạt được mục tiêu hoàn toàn độc lập về năng lượng, bao gồm các nguồn như dầu thô, khí đốt và than. Sở dĩ IEA có đánh giá lạc quan này là vì ở Mỹ trong năm qua chứng kiến sự bùng nổ về các dự án khai thác nguồn dầu đá phiến, một lĩnh vực đòi hỏi công nghệ rất cao. Với đà đẩy mạnh khai thác như hiện nay, đến năm 2015, sản lượng khai thác dầu của Mỹ có thể đạt 10 triệu thùng/ngày, đạt 11,1 triệu thùng/ngày vào năm 2020 và đến năm 2035 sẽ nâng lên mức 12,3 triệu thùng/ngày.
3. Nhật Bản chật vật định hình tương lai năng lượng
Kế hoạch đáp ứng 1/2 nhu cầu sử dụng điện từ các nhà máy phát điện nguyên tử của Nhật Bản đã phá sản kể từ sau trận động đất và sóng thần gây thảm họa hạt nhân Daiichi Fukushima hồi tháng 3-2011 với việc đóng cửa 52 lò phản ứng hạt nhân trên toàn quốc. Do không có nguồn năng lượng nào khả dĩ thay thế điện hạt nhân ngay, Nhật Bản tiếp tục phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu mà có đến 70% số đó được vận chuyển qua eo biển Hormuz đầy rủi ro. Quyết định khởi động lại 2 lò phản ứng hạt nhân tại Ohi mùa hè 2012 gặp phải sự phản đối dữ dội từ người dân và với Chính phủ Nhật, đó cũng là điều “cực chẳng đã”. Việc tái khởi động công trình xây dựng Nhà máy Điện hạt nhân Oma tháng 12-2012 có ý nghĩa lớn về chiến lược và công nghệ điện hạt nhân của Nhật Bản, cho thấy đất nước Mặt trời mọc không thể nào chấm dứt phát điện hạt nhân trong năm 2030 như chiến lược năng lượng mà cựu Thủ tướng Noda đã đề ra.
4. Trung Quốc bức bách trong cơn khát năng lượng
Để đáp ứng nhu cầu năng lượng bức thiết của nền kinh tế đang phát triển nóng, Trung Quốc ngày nay đang khám phá hầu như tất cả các nguồn năng lượng trong nước từ năng lượng hóa thạch đến năng lượng tái tạo và tích cực thâu tóm các tài sản, công ty năng lượng trên thế giới, nhằm đảm bảo nguồn cung cũng như học hỏi, nhập khẩu những công nghệ khai thác năng lượng tiên tiến thế giới có, Trung Quốc thiếu. Than đá vẫn là nguồn cung cấp năng lượng chính của Trung Quốc nhưng quốc gia sử dụng năng lượng nhiều nhất thế giới này đang kỳ vọng vào trữ lượng khí đá phiến được cho là lớn gấp đôi trữ lượng của Hoa Kỳ, đến năm 2020, sẽ chiếm 6% cơ cấu năng lượng. Tuy nhiên, sự phức tạp của địa chất, khó khăn về cơ sở hạ tầng và thiếu nước lại là những trở ngại chính trong việc đạt mục tiêu này. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đau đầu với bài toán giảm thiểu phát thải nhà kính, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
5. Mất điện lịch sử ở Ấn Độ
3 trong 5 hệ thống đường dây của Ấn Độ bị hỏng vào ngày 31-7 đã khiến hơn nửa số dân của đất nước 1,2 tỉ nhân khẩu sống tại 20/29 bang, bao gồm cả thủ đô New Dehli phải chịu cảnh mất điện, sống trong bóng tối và đảo lộn mọi sinh hoạt trong 2 ngày liền. Hệ thống giao thông công cộng tắc nghẽn, đường phố náo loạn. Ít nhất 300 chuyến tàu đã bị hủy. Bệnh viện, các dịch vụ khẩn cấp và hoạt động kinh doanh trên khắp miền Bắc và miền Đông nước này cũng bị ảnh hưởng nặng nề và gần như tê liệt... Sự cố mất điện lớn nhất trong lịch sử loài người xảy ra ở Ấn Độ không chỉ báo động về tình trạng cơ sở vật chất mà còn hé lộ một bức tranh an ninh năng lượng u ám của nền kinh tế lớn thứ 3 châu Á - từng được hy vọng sẽ là một trong những động lực kéo nền kinh tế thế giới ra khỏi khủng hoảng như năm 2008-2009.
6. Căng thẳng trên những điểm nóng năng lượng
Ngay từ những ngày đầu năm 2012, năng lượng và xung đột đã luôn buộc chặt vào nhau, đem lại tầm quan trọng ngày một gia tăng cho những vùng địa năng lượng trong thế giới tài nguyên then chốt ngày một hạn chế. Bắt đầu với Eo biển Hormuz - tuyến vận tải biển chiến lược trung chuyển khoảng 17 triệu thùng dầu mỗi ngày, tức 20% số cung toàn cầu. Những tuyên bố đe dọa phong tỏa, “không để một giọt dầu đi qua” eo biển chiến lược này của Iran để đáp trả lệnh trừng phạt của Mỹ và Liên minh châu Âu luôn là đề tài nóng hổi thời sự trên các mặt báo trong năm và khiến thị trường dầu mỏ thế giới chao đảo nhiều phen. Trong khi đó, tại Biển Đông và biển Hoa Đông, căng thẳng tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc - Nhật Bản và Trung Quốc - một số nước ASEAN cũng dấy lên lo ngại bùng phát thành xung đột, mà theo các nhà phân tích, động cơ chính là quyền tiếp cận với trữ lượng khí đốt giàu có ở các khu vực này. Ít nóng hổi hơn nhưng cũng không kém phần thời sự là việc biến đổi khí hậu, các lớp băng tan ra đã khiến cho các nguồn tài nguyên năng lượng ở Bắc Cực trở nên dễ tiếp cận và hấp dẫn hơn bao giờ hết. Không chỉ có Mỹ, Nga, các nước Liên minh châu Âu gần Bắc Cực lao vào cuộc cạnh tranh giành quyền khai thác ở vùng đất “vàng” này mà “xa xôi” như Trung Quốc cũng “nhòm ngó”.
7. Chia rẽ quan điểm về khí đá phiến
Khai thác và phát triển khí đá phiến tiếp tục là đề tài gây tranh cãi trên toàn thế giới. Một mặt, ở nhiều nước như Mỹ, Ba Lan, Trung Quốc, Algeria… nó được kỳ vọng sẽ làm thay đổi bức tranh an ninh năng lượng quốc gia. Mặt khác, lo ngại về những rủi ro môi trường và môi liên quan tới động đất do quá trình khoan và bẻ gãy thủy lực gây ra đã khiến cho “fracking” đá phiến ở một số nước bị cấm như Pháp, Bulgaria…

KEYTECH
Theo Petrotimes

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

'Thời cơ vàng' của điện gió

Thiên nhiên hào phóng ban phát cho nhân loại sống trên quả đất này một nguồn nhiên liệu "miễn phí" vô tận, hay nói cách khác, một nguồn năng lượng tái tạo vô cùng lớn. Đó là gió, hay là năng lượng gió.
Bây giờ đây, nhiều nước đang sử dụng rộng rãi nguồn điện sản sinh từ tuabin gió. Nhưng cả mấy trăm năm trước rồi, nhiều dân tộc đã biết biến sức gió thay sức mạnh cơ bắp quay chiếc cối xay gió, kéo chiếc thuyền buồm vượt biển hay đẩy khối khinh khí cầu lên không trung.
Ai đã một lần đến một nước Bắc Âu nào đó, hẳn có dịp được nhìn thấy dọc đường xe chạy không chỉ những chiếc cối xay gió cũ màu thời gian, mà cả những hàng tuabin điện gió tươi mới cao vút giang cánh rộng trên nền trời xanh.
Cối xay gió giữa đảo Bogo (Đan Mạch), tiền thân các nhà máy phát điện gió ngày nay
"Ngựa gió" đã vươn mình
Hình ảnh những cột điện gió đó trong 5 - 10 năm trở lại đây đã lan ra đến 80 nước trên thế giới. Sự lan toả đó, giờ đây, càng rộng hơn khi cả thế giới đang tìm cách giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch, than đá và khí đốt tự nhiên, nhằm hạn chế tác hại khí nhà kính gây biến đổi khí hậu toàn cầu và sự cạn dần của nguồn thuỷ điện.
Trong một tương lai không xa, bên cạnh năng lượng hạt nhân, năng lượng gió sẽ được xem như một lựa chọn thay thế chủ yếu.
Trên tạp chí Kỷ yếu Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia số ra ngày 11/9 vừa qua đã công bố một công trình nghiên cứu, trong đó khẳng định rằng, trái đất chúng ta có thừa gió để tạo ra nguồn điện năng khổng lồ phục vụ cho toàn nhân loại.
Trong 5 - 10 năm gần đây, tiềm năng gió đó đẵ bắt đầu khai thác mạnh. Một con "ngựa gió" non trẻ đã vươn mình đứng dậy. Liên Hợp Quốc gần đây cũng đưa ra các số liệu chứng tỏ công suất điện gió đã tăng nhanh trên toàn cầu và đạt kỷ lục mới là 238.000 MW (mega-oát), tương đương công suất của 238 lò phản ứng năng lượng hạt nhân, đủ để cung cấp nhu cầu điện sinh hoạt cho 380 triệu người.
Chỉ riêng năm 2011, công suất điện gió toàn cầu đã tăng thêm 41.000 MW, dự báo sẽ tăng không duới 100% vào năm 2016. Năng lượng gió được dự báo sẽ ngày càng khẳng định được vị trí, và tới năm 2030 điện gió sẽ đạt tỉ trọng lớn thứ hai, chỉ sau nhiệt điện.
Cũng trong năm 2011, Trung Quốc vươn lên dẫn đầu thế giới về công suất điện gió với tổng công suất khoảng 63.000 MW. Theo sau là Mỹ với công suất 47.000 MW. Đức đứng thứ ba thế giới và hiện chiếm hơn 9% tổng sản lượng điện lưới quốc gia này.
Tính theo châu lục, châu Âu với công suất 100.000 MW đang vượt các châu khác về nguồn phong điện. Trong đó, Đức, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Anh, Pháp... là những nước có nền công nghiệp điện gió rất phát triển.
Các nước Mỹ La-tinh, châu Phi và Trung Đông cũng đang nhanh chóng khai thác năng lượng gió, chẳng hạn năm 2011, Brazil tăng thêm 63% công suất điện gió so với năm 2010...
"Biển bạc" và "thời cơ vàng"
Trước đây chúng ta nói nhiều nhưng khá mơ hồ rằng đất nước ta "rừng vàng biển bạc", nhưng nay có thể nói bằng con số đo đếm được, rằng nước Việt Nam có "biển bạc". Với hơn 3.260 km bờ biển, nước ta là một trong những quốc gia có tiềm năng lớn về điện gió.
Theo một tài liệu khảo sát của Chính phủ cho thấy ở nước ta có khoảng 17.400 hecta diện tích những vùng đất được xem là thích hợp cho xây dựng điện gió. Và Ngân hàng Thế giới (World Bank), đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Theo số liệu khảo sát, hơn 39% lãnh thổ Việt Nam có vận tốc gió lớn hơn 6 m/s; trong đó khoảng 8,6 % diện tích được xếp hạng có tiềm năng gió rất tốt để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn, trong khi diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là 2,9% và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2%..
Nếu qui đổi ra thành công suất điện, thì Việt Nam có tiềm năng điện gió tương đương với công suất 531.360 MW, tức hơn 200 lần công suất của Nhà máy thủy điện Sơn La lớn nhất Việt Nam, hay bằng công suất của 500 lò phản ứng năng lượng hạt nhân.
Dĩ nhiên, trong thực tế, do nhiều lý do khác nhau nên không thể biến tất cả tiềm năng trên thành nguồn điện. Dù sao, tiềm năng đó là cơ sở căn bản tạo điều kiện để xây dựng nền công nghiệp điện gió tương xứng, đóng vai trò trụ cột trong một tương lai không xa.
Cùng với tiềm năng, ngành điện gió đang đứng trước thuận lợi to lớn, một "thời cơ vàng" khi Nhà nước đã có chủ trương phát triển nguồn điện này, đưa ra những mục tiêu và lộ trình cụ thể trong Quy hoạch điện VII. Theo đó, năng lượng gió được xem là nguồn phát điện quan trọng nhất, sẽ được phát triển từ mức không đáng kể như hiện nay lên khoảng 1.000 MW vào năm 2020 và 6.200 MW vào năm 2030.
Nhưng tiềm năng "biển bạc" và "thời cơ vàng" là một chuyện, còn việc biến tất cả những "át chủ bài" đó thành thực tế là một chuyện khác. Sự lo ngại đó là có cơ sở khi nhìn vào những bước đi khập khễnh đầu tiên vào con đường điện gió sau đây.
Theo tài liệu của Bộ Công Thương, Việt Nam đi vào điện gió đã chục năm nay. Trong giai đoạn đầu lắp đặt hầu hết các tuabin gió cỡ nhỏ với công suất chỉ từ 30KW đến 150KW.
Đến cuối năm 2003 có khoảng 1.300 tuabin gió như vậy đã được lắp đặt sử dụng. Nhưng, sau một thời gian ngắn hoạt động, phần lớn các tuabin này đều hư hỏng hoặc không phát huy hiệu quả, do chọn công nghệ không thích hợp, do thiết bị máy móc nhập kém chất lựơng và do cả chọn vị trí địa lý đặt cột tuabin chưa điều tra kỹ lưỡng.
Ngoài ra, hàng chục dự án điện gió nhỏ lẻ tại các tỉnh, thành duyên hải miền Nam và miền Trung với tổng công suất khoảng 5.000MW vẫn giẫm chân tại chỗ trong giai đoạn nghiên cứu triển khai.
Rõ ràng, phía trước con đường xây dựng một nền công nghiệp mới mẻ như điện gió chồng chất bao khó khăn và thử thách nhiều mặt, từ sự phức tạp về công nghệ, giá thành đầu tư cao đến các chính sách đầu tư, hỗ trợ của nhà nước v.v...
KEYTECH
TỔNG HỢP

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2012

Cần có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển điện gió

Các nhà máy điện gió đầu tiên, ở Bình Thuận và ở Bạc Liêu, có thể xem là các điểm đột phá mở đường xây dựng nền công nghiệp phong điện non trẻ, nhưng được kỳ vọng là một nguồn điện trụ cột trong tương lai ở Việt Nam. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần có các chính sách ưu tiên của Chính phủ.
Nguồn điện tương lai
Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, thuỷ điện và phong điện hay điện gió được xem là nguồn điện sạch; ít gây ô nhiễm khí “nhà kính”.
Nhưng, nếu thuỷ điện ẩn chứa những hiểm hoạ đối với các cộng đồng dân cư, thì điện gió thân thiện và hiền hoà đối với con người. Nếu xem thuỷ điện là nguồn điện “già”, thì phong điện hay điện gió được gọi là nguồn điện trẻ. Vì trong khi thuỷ điện đã và đang đóng vai trò lớn trong nền công nghiệp điện nhiều nước, điện gió chỉ mới được chú ý đầu tư và khai thác khoảng 5 - 10 năm trở lại đây.
Riêng ở Việt Nam, tại thời điểm cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 này, thuỷ điện đã đóng góp đến 1/3 nhu cầu sử dụng điện của cả nước, nhưng điện gió hầu như chỉ mới ở mức xuất phát. Vì vậy, sự xuất hiện trong năm 2012 các nhà máy phát điện gió, một ở tỉnh Bình Thuận thuộc miền nam Trung Bộ và một ở tỉnh Bạc Liêu thuộc miền tây Nam Bộ có thể xem như những điểm sáng hay các điểm đột phá ấn tượng mở đường xây dựng nền công nghiệp phong điện của nước ta.
Bình Thuận tiên phong của điện gió
Với điều kiện địa lý thuận lợi của một địa phương có bờ biển dài, lượng gió nhiều và phân bổ khá đều quanh năm, tính đến cuối tháng 1 năm 2012 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận đã xây dựng 16 dự án điện gió, với tổng công suất dự tính khoảng 1.300 MW. Trong đó, có 5 dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, 9 dự án đã hoàn thành báo cáo đầu tư trình xin cấp giấy chứng nhận, 2 dự án đang trong giai đoạn khảo sát lập hồ sơ dự án đầu tư.
Trong số 16 dự án nói trên, Dự án Nhà máy điện gió Tuy Phong, đặt tại xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận do Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN) đầu tư được triển khai đầu tiên.
Toàn bộ dự án, khi hoàn thành, sẽ có 80 tuabin với tổng công suất 120 MW, sử dụng công nghệ hiện đại của Cộng hòa liên bang Đức.
Giai đoạn 1 của dự án gồm 20 trụ điện gió (tuabin) chiều cao cột 85 m, đường kính cánh quạt 77 m, công suất 1,5 MW/tuabin; tức tổng công suất của giai đoạn này là 30 MW. Và mỗi năm dự tính sản xuất khoảng gần 100 triệu kWh điện. Đến cuối quý 1 năm nay, giai đoạn 1 đã hoàn thành cơ bản; bao gồm các khâu lắp đặt, đưa vào vận hành và đấu nối với lưới điện quốc gia. Và Nhà máy điện gió Tuy Phong 1 đã chính thức được khánh thành, đi vào hoạt động từ ngày 18/4/2012. Đây cũng là nhà máy điện gió đầu tiên của cả nước chính thức đi vào hoạt động.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2 của dự án chuẩn bị khởi công xây dựng và lắp đặt 60 trụ điện gió (hay tuabin), nâng tổng công suất của toàn bộ Nhà máy Phong điện Tuy Phong lên 120 MW.
Ở tỉnh Bình Thuận, sau Dự án Tuy Phong đã hòa mạng lưới điện quốc gia giai đoạn 1 và chuẩn bị thi công giai đoạn 2, dự án điện gió ở đảo Phú Quý với 3 tuabin, tổng công suất 6 MW đã lắp đặt xong và thử vận hành an toàn, bình thường. Nguồn điện gió Phú Quý, khi chính thức hòa vào dòng điện của nhà máy điện Diesel hiện có tại đảo, thì đảo Phú Quý sẽ có điện 24/24 giờ.
Ngoài ra, cũng ở Bình Thuận, một dự án điện gió tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình cũng trong giai đoạn thi công và một số dự án khác đang chuẩn bị triển khai.
Với các dự án nói trên, rõ ràng, tỉnh Bình Thuận đang đi đầu trên con đường phát triển điện gió ở Việt Nam.
Các cột điện gió trên biển thuộc Nhà máy điện gió Bạc Liêu
Bạc Liêu tiềm năng lớn
Dự án điện gió trên biển đầu tiên của nước ta ở tỉnh Bạc Liêu đã hoàn thành giai đoạn 1, với tuabin thứ 10 lắp đặt thành công vào chiều ngày 2/10/2012.
Toàn bộ Nhà máy điện gió Bạc Liêu được đặt dọc theo đê biển Đông, kéo dài từ phường Nhà Mát đến ranh giới tỉnh Sóc Trăng và chiểm tổng diện tích gần 500 ha.
Ở đây, các tuabin gió được sản xuất tại Mỹ, làm bằng thép đặc biệt không gỉ, cao 80m, đường kính 4m, mỗi tuabin có 3 cánh quạt, mỗi cánh dài 42 m, làm bằng nhựa đặc biệt, có hệ thống điều khiển giúp cánh quạt tự gập lại khi gặp thời tiết xấu, bão lớn.
Dự án có vốn đầu tư khoảng 5.200 tỷ đồng do Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại và Du lịch Công Lý (Cà Mau) làm chủ đầu tư. Dự án được khởi công năm 2010 và dự kiến hoàn thành vào năm 2013.
Trong giai đoạn 1 đã hoàn thành lắp đặt 10 cột (hay tuabin), công suất tổng cộng của giai đoạn này là 16 MW và điện năng sản xuất dự tính khoảng 56 triệu kWh/năm.
Giai đoạn 2 của dự án sẽ xây lắp tiếp 52 tuabin gió còn lại. Sau khi hoàn thành, Nhà máy điện gió Bạc Liêu sẽ có tổng số 62 tuabin với tổng công suất trên 99 MW và điện năng sản xuất ra khoảng 320 triệu kWh/năm.
Nhà máy phát điện gió Bạc Liêu là một điển hình về việc thu hút doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào ngành điện nói chung và đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo nói riêng.
Từ kinh nghiệm này, mới đây UBND tỉnh Trà Vinh, Tập đoàn EAB (Đức) và Công ty CP Thương mại Sản xuất và Dịch vụ tổng hợp Trasesco đã phối hợp thực hiện dự án đầu tư năng lượng gió tại Duyên Hải - Trà Vinh, với 20 tổ máy, tổng công suất 30 MW, sản xuất bình quân 75 triệu kWh/năm. Một số địa phương khác ở Nam Bộ cũng đang xây dựng dự án điện gió cho địa phương mình.
Như vậy, Bạc Liêu, với dự án điện gió ven biển đầu tiên hoàn thành giai đoạn 1, trở thành tỉnh tiên phong ở Nam bộ hay vùng đồng bằng sông Cửu Long trên con đường phát triển loại điện năng tái tạo mới này.
Cần những biện pháp đòn bẩy
Cùng với sự phát triển nền kinh tế đất nước, nhu cầu cung cấp điện năng ngày càng lớn. Và điện gió đang được kỳ vọng như là một trong những nguồn điện của tương lai, xếp hàng sau điện hạt nhân, nhưng đứng trước các nguồn điện dùng năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện sinh khối...
Chính phủ, trong Tổng sơ đồ điện VII, đã đưa ra mục tiêu nâng tổng công suất nguồn điện gió từ mức không đáng kể hiện nay lên khoảng 1.000 MW (tương đương công suất 1 lò phản ứng hạt nhân) vào năm 2020, và khoảng 6.200 MW (tương đương công suất 6 lò phản ứng hạt nhân) vào năm 2030; tức điện năng sản xuất từ nguồn điện gió sẽ chiếm tỷ trọng từ 0,7% năm 2020 lên 2,4% vào năm 2030.
Mục tiêu đó so với nhu cầu còn khiêm tốn, nhưng thực hiện cũng hoàn toàn không dễ, nếu tính đến những yếu điểm về công nghệ, về tính kinh tế và cả về mặt tác động môi trường của loại điện năng này. Để đạt các chỉ tiêu trong Tổng sơ đồ điện VII không thể thiếu những biện pháp đòn bẫy, trước hết là một loạt chính sách đầu tư và khuyến khích của nhà nước.
KEYTECH
Tổng Hợp

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Những suy nghĩ sai lầm về năng lượng thay thế

 Chúng ta đang được sống trong một thời đại mà công nghệ, khoa học phát triển mạnh hơn bao giờ hết. Nhưng cùng với đó là những vấn đề về môi trường năng lượng cũng nóng hổi và có vẻ có nhiều điều cần suy xét. Hiện tại chúng ta đang đứng trước một thời kì chuyển đổi khi giữa việc phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ và sự thay thế của các nguồn năng lượng tái tạo. Sự chuyển đổi đang diễn ra nhanh chóng nhưng cũng cần có hiểu biết và chọn lựa. Bài viết này sẽ cung cấp đến bạn 5 quan niệm chưa được đúng về các nguồn năng lượng thay thế.  
1. Than sạch là câu trả lời ?
Than đá có nhiều vấn đề, chúng bẩn và làm hại môi trường. Một vài thông số cho biết các nhà máy điện đốt than chiếm khoảng 59% tổng ô nhiễm sulfur dioxide của Hoa Kì, 40% tổng lượng khí CO2 thái ra môi trường. Ngoài ra vấn đề của than còn là khói, làm hại tầng ozone, sức khỏe con người… Và còn chưa kể đến những vấn đề tiêu cực trong lao động khi khai thác than đá.
Mặc dù là như vậy nhưng than đá vẫn đóng một vai trò cực kì quan trọng trong việc sản xuất ra năng lượng cho toàn cầu. Và việc yêu cầu dừng tất cả lại là bất khả thi. Tuy nhiên dường như chúng ta đã có cách giải quyết vấn đề là than sạch – về mặt lý thuyết thì nó có thể giảm thiểu tác hại tới môi trường.
Tưởng chừng như tất cả đã ổn thoải nhưng thực sự không phải vậy. Vì chúng vẫn gây ô nhiễm, chỉ là có giảm thiểu so với than đá. Thêm vào đó, các nhà môi trường cũng chỉ ra việc khai thác than vẫn còn phụ thuộc nhiều đến biến động địa chất, cơ cấu đất … Quan điểm than sạch hoàn hảo là sai lầm, nó có thể là một giải pháp thay thế ổn hơn so với than đá nhưng không hoàn toàn loại bỏ được tác động xấu cũng như việc khai thác tinh chế chưa thể phục vụ được cho nhu cầu lớn của thế giới.
2. Năng lượng mặt trời sẽ không cung cấp đủ điện
Năng lượng mặt trời cho đến thời điểm này có lẽ đã không còn quá xa lạ với chúng ta. Có không ít những ứng dụng nguồn năng lượng này thông dụng trong cuộc sống như bình nóng lạnh, một vài loại xe ô tô, …
Điện mặt trời nghĩa là phát điện dựa trên động cơ nhiệt và pin quang điện. Công nghệ năng lượng mặt trời được mô tả rộng rãi như là hoặc năng lượng mặt trời thụ động hoặc năng lượng mặt trời hoạt động tùy thuộc vào cách chúng nắm bắt, chuyển đổi và phân phối năng lượng mặt trời. Kỹ thuật năng lượng mặt trời hoạt động bao gồm việc sử dụng các tấm quang điện và năng lượng mặt trời nhiệt thu để khai thác năng lượng. Kỹ thuật năng lượng mặt trời thụ động bao gồm các định hướng một tòa nhà về phía Mặt trời, lựa chọn vật liệu có khối lượng nhiệt thuận lợi hoặc tài sản ánh sáng phân tán, và thiết kế không gian lưu thông không khí tự nhiên (nguồn : Wikipedia).
Tuy nhiên rằng chúng ta có vẻ chưa thực sự khai thác triệt để nguồn năng lượng này và có suy nghĩ rằng năng lượng mặt trời sẽ không bao giờ có thể cung cấp đủ lượng điện năng cần thiết. Người ta thường chỉ nghiên cứu và đưa ra những ứng dụng nho nhỏ, cổ vũ cho phong trào sống xanh … hầu như chúng không có ảnh hưởng mấy đến lượng tiêu thụ năng lượng toàn cầu và chúng ta vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào những nguồn năng lượng hóa thạch là chính.
Nhưng có lẽ quan niệm này cần phải xem xét lại một chút vì năng lượng mặt trời hoàn toàn có khả năng cung cấp đủ lượng điện năng chúng ta cần. Bộ Năng Lượng Hoa Kì (DOE) đã ước tính rằng nguồn năng lượng mặt trời chỉ trong khu vực 229km vuông trong bang Nevada có thể cung cấp đủ điện cho Hoa Kỳ, ước tính con số là 800 gigawat điện. Và điều đó chứng minh rằng mặt trời hoàn toàn có khả năng cung cấp đủ điện năng. Vấn đề chỉ là cách chúng ta khai thác nó mà thôi. Tất nhiên là điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Trong tương lai, chắc chắn rằng chúng ta sẽ phải chú trọng hơn đến công nghệ điện mặt trời nếu muốn có một nguồn thay thế đáng kể và đủ lớn.
3. Năng lượng gió : đắt đỏ, gây ồn và hại đến loài chim?
Ngoài năng lượng mặt trời ra thì năng lượng gió cũng là một nguồn năng lượng thay thế đáng để trông đợi. Tuy nhiên rằng loại hình sản xuất năng lượng này được cho là quá ồn ã, đắt đỏ và chúng được ví như một lò xay chim (?).Những tin đồn này là thất thiệt hay thực là vậy ???
Công bằng mà nói thì chúng có làm chết loài chim. Nhưng hãy nhìn nhận một chút là mọi hoạt động khác của con người như xây dựng, công nghiệp … tất cả đều làm chết loài này và thậm chí còn nhiều loài khác nữa. Và cũng theo thống kê của Bộ Năng Lượng Hoa Kì thì lượng chim bị chết do các tubin gió chẳng là gì so với những lý do khác.
Nhưng ngay cả không phải vấn đề liên quan đến loài chim thì vẫn có một cái nhìn tiêu cực khác về các tua bin gió – chúng phát ra tiếng ồn. Nhưng đó chỉ là trong quá khứ mà thôi vì với công nghệ hiện đại, chúng cơ bản chạy tương đối êm và ổn dịnh. Theo Bộ Năng Lượng Mỹ, nếu bạn đứng cách khoảng 229 mét từ một trang trại tua bin gió thì tiếng ồn chỉ như một chiếc tủ lạnh trong bếp. Nếu 0 decibel là ngưỡng trần và 140 là ngưỡng đau đớn, âm thanh từ trang trại gió nằm trong mức 35 đến 45, kẹp giữa một phòng ngủ yên tĩnh (35 decibel) và một chiếc xe hơi đi với vận tốc 64 km/giờ (55 decibel).
Vấn đề cuối cùng chính là chi phí. Giống như mọi loại năng lượng khác, chúng ta phải chấp nhận một khoản đầu tư lớn ban đầu để đi vào thu hoạch. Theo các thống kê thì các trang trại gió trung bình sẽ trả lại được năng lượng dùng cho sản xuất trong từ 3 -5 tháng. Từ khi các trang trại gió phụ thuộc vào mô hình thời tiết biến thiên, chi phí hoạt động có xu hướng tăng lên. Lý do đơn giản là gió sẽ không thổi với tốc độ cao trong cả một năm, tức là không sản xuất được điện năng tối đa theo lý thuyết. Nhưng tất nhiên rằng so với số đầu tư ban đầu thì về lâu dài lợi nhuận vẫn là đáng kể. Và vì nó là nguồn năng lượng thay thế nên so với những tài nguyên cũ thì chúng ta phải có sự đánh đổi nhất định ban đầu. Năng lượng gió rất hứa hẹn với môi trường và lâu dài thì cả với túi tiền của người tiêu thụ nữa.
4. Chính phủ chưa quan tâm đúng mức nên năng lượng mới không phát triển được mấy
Chính phủ, tất nhiên là chính phủ luôn là vấn đề. Họ là những người cầm quyền, việc khuyến khích hay không khuyến khích thứ gì đó sẽ đem lại ảnh hưởng lớn. Vấn đề năng lượng mới dường như cũng phụ thuộc vào thái độ của chính phủ. Nhiều người đã ngao ngán cho rằng không có biện pháp khuyến khích của chính phủ thì những loại năng lượng thay thế sẽ chẳng đi đâu về đâu. Chúng tôi không bác bỏ quan niệm này, nhưng nó cũng không hoàn toàn chính xác.
Đối với một số đất nước không chú trọng lắm thì việc đầu tư vào năng lượng thay thế có vẻ như chưa cần thiết. Vấn đề của họ là cần phân phối nguồn tiền vào nhiều lĩnh vực khác để phát triển.
Trong năm 2007, Hoa Kỳ đã cấp 724 triệu USD trợ cấp cho dự án phát triển năng lượng gió, 174 triệu USD cho năng lượng mặt trời và 14 triệu USD cho năng lượng địa nhiệt. Tuy nhiên, cùng thời gian đó số tiền đầu tư vào sản xuất than là 854 triệu USD và 1,267 tỉ USD cho năng lượng hạt nhân. Những thông số trên cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh. Nếu so sánh với số tiền đầu tư vào than hay hạt nhân thì rõ ràng năng lượng thay thế đã bị bỏ xó. Nhưng khi nhìn riêng biệt thì năng lượng mới đã được đầu tư một số tiền lớn phù hợp. Điều này cho thấy có thể chính phủ không quan tâm đến lĩnh vực này nhiều nhưng chắc chắn rằng nó vẫn phát triển và trong tương lai sẽ còn hơn thế, ngoài ra thì chúng ta nên nhìn nhận riêng biệt chứ không nên nhìn trên cục diện quá lớn bởi hiện nay thế giới vẫn phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch là chính. Quá trình xây dựng nền tảng mới chỉ bắt đầu và không cần phải đổ nguồn tài chính quá lớn vào đó.
5. Năng lượng thay thế không thể thay thế hoàn toàn nhiên liệu hóa thạch
Chúng ta đã trải qua quá nhiều thế kỉ bị phụ thuộc vào nguồn máu đen của trái đất – dầu mỏ. Và đây là nguồn tài nguyên không tái tạo nên có lẽ chúng ta sẽ phải sớm tạm biệt nó thôi. Và liệu nền văn minh của chúng ta liệu có thể tiếp tục bằng cách chỉ dựa vào các nguồn năng lượng tái tạo như là gió và mặt trời.
Trong năm 2007, nhiên liệu hóa thạch chiếm gần 72 % sản xuất điện của Hoa Kỳ , trong khi thuỷ điện cung cấp chỉ có 5,8% và năng lượng tái tạo khác cung cấp chỉ 2,5% (nguồn: Manhattan Institute). Ước tính rằng đến năm 2030 thì nhiên liệu hóa thạch và uranium vẫn sẽ là nguồn cung cấp chính.
Và với sự phát triển tương đối từ từ của năng lượng thay thế thì suy nghĩ rằng chẳng bao giờ nguồn năng lượng này thay thế được nhiên liệu hóa thạch cũng là dễ hiểu. Nhưng vấn đề là chúng ta đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ và đòi hỏi cần một hướng đi mới. Và điều không thể cũng sẽ phải trở thành điều có thể.
Điều cần thiết chính là thúc đẩy sự phát triển của những nguồn năng lượng này. Việc chuyển đổi sẽ mất nhiều thời gian nhưng không phải là không thể. Chúng ta có nhiều loại năng lượng thay thế như gió, mặt trời, thủy triều, … sự thay thế trong tương lai là hoàn toàn có thể trông chờ.
KEYTECH
Theo Petrotimes