Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

Nhà máy điện hạt nhân thế hệ mới được xây dựng tại Anh

hính phủ Anh ngày 19/3 đã thông qua kế hoạch cho phép Tập đoàn Năng lượng Pháp EDF triển khai dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở hạt Somerset, phía Tây Nam nước Anh. Đây là nhà máy điện hạt nhân thế hệ mới đầu tiên được xây dựng ở "đảo quốc sương mù" kể từ năm 1995
Theo kế hoạch, Anh sẽ đóng cửa hơn 40% số nhà máy điện lâu đời trước năm 2025, trong khi sản lượng dầu mỏ và khí đốt của nước này đang sụt giảm mạnh trong những năm gần đây. 
Với chi phí ước tính lên tới 14 tỷ bảng (khoảng 22,5 tỷ USD), nhà máy phát điện hạt nhân Hinkley Point C có khả năng sản xuất lượng điện tương đương với 7% tổng lượng điện của Anh, tức là đủ để cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của 5 triệu hộ gia đình.
Dự án cũng sẽ tạo ra việc làm cho từ 20.000-25.000 lao động trong thời gian xây dựng và 900 việc làm ổn định để vận hành nhà máy trong thời gian 60 năm.
Phát biểu trước Hạ viện, Bộ trưởng Năng lượng và Biến đổi khí hậu Anh Ed Davey cho biết: Chính phủ Anh "bật đèn xanhh" cho dự án này sau khi tập đoàn EDF trải qua quá trình tham khảo ý kiến giới chức địa phương trong vòng ba năm qua và cuộc thẩm tra kéo dài một năm của Cơ quan kế hoạch Anh (UKPI).
Ông Davicho rằng, dự án của EDF sẽ là một "dấu mốc quan trọng" trong nỗ lực của Anh nhằm giảm lượng phát thải khí carbon, đồng thời nhấn mạnh điện hạt nhân sẽ đóng một "vai trò then chốt" trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.
Theo ông Davey, dự án sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho hạt Somerset thông qua số việc làm trực tiếp được tạo ra cũng như chuỗi cung cấp và việc sử dụng các dịch vụ tại địa phương. Hiện tập đoàn EDF chỉ còn một rào cản pháp lý cuối cùng phải vượt qua đó là giấy phép xây dựng.
Bên cạnh đó, cho đến thời điểm này, tập đoàn và Chính phủ Anh vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng về giá điện sản xuất tại nhà máy. Ông Davey cho biết các cuộc đàm phán về giá điện sẽ sớm kết thúc.
Chính phủ Anh hiện coi điện hạt nhân là trọng tâm trong nỗ lực thực hiện các mục tiêu về cắt giảm khí thải carbon và duy trì sản lượng điện ở nước này.
Theo kế hoạch, Anh sẽ đóng cửa hơn 40% số nhà máy phát điện lâu đời trước năm 2025, trong khi sản lượng dầu mỏ và khí đốt của nước này đang sụt giảm mạnh trong những năm gần đây.
KEYTECH
Theo NLVN 

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

Cách thức hoạt động của máy phát điện

Một máy phát điện là một thiết được sử dụng để chuyển đổi năng lượng cơ học thành năng lượng điện. Nó được dựa trên nguyên tắc cảm ứng điện từ, một định luật khoa học đã được phát hiện bởi nhà khoa học người Anh Michael Faraday và nhà khoa học người Mỹ Joseph Henry vào năm 1831.
Lịch sử máy phát điện
Một máy phát điện là một thiết được sử dụng để chuyển đổi năng lượng cơ học thành năng lượng điện. Nó được dựa trên nguyên tắc cảm ứng điện từ, một định luật khoa học đã được phát hiện bởi nhà khoa học người Anh Michael Faraday và nhà khoa học người Mỹ Joseph Henry vào năm 1831. Nguyên tắc này nói rằng khi một vật dẫn điện, chẳng hạn như một dây đồng được chuyển qua một từ trường, dòng điện sẽ chảy qua dây dẫn. Năng lượng cơ học của dây chuyển động được chuyển đổi thành năng lượng điện. Faraday và Henry phát hiện ra rằng khi bạn di chuyển một nam châm trong một cuộn dây, dòng điện được tạo ra.
 
Định luật Faraday
Định luật Faraday cho thấy di chuyển từ trường sẽ gây ra các electron di chuyển. Máy phát điện tạo ra chuyển động của điện tử trong các cuộn dây đồng bên trong bằng cách di chuyển chúng qua một từ trường. Faraday xây dựng nên  máy phát điện đầu tiên, nó được gọi là đĩa Faraday,  nó đơn giản là một đĩa đồng quay giữa các cực của một nam châm hình móng ngựa. Nó đã tạo ra một điện áp DC nhỏ và số lượng lớn hoạt động hiện hành là không hiệu quả, nhưng đó là một sự khởi đầu tốt cho máy phát điện trong tương lai.
Máy phát điện nam châm
Máy phát điện nam châm sử dụng áp lực của các hạt điện tử để đẩy chúng và tạo ra một dòng chảy hiện tại của dòng điện. Số lượng các electron chuyển động được gọi là cường độ dòng điện và được đo trong amps. Áp lực đẩy các hạt điện tử được gọi là điện áp và được đo bằng volts.
Nam châm điện
Máy phát điện cơ bản được tạo ra bởi một lượng cơ khí có thể biến thành một dây dẫn điện hoặc thanh trong một từ trường. Các lực lượng được sử dụng để quay các đối tượng dẫn điện có thể được cung cấp bằng nhiều nguồn, chẳng hạn như  sự di chuyển của nước, hơi nước, động cơ khí gió, hoặc thậm chí là đòn bẩy tay cranked. Sau đó dòng điện chảy vào một động cơ điện hoặc thiết bị điện khác, đảo ngược quá trình và dòng điện làm cho nó di chuyển. Máy phát điện nhỏ tạo ra một từ trường nam châm vĩnh cửu. Máy phát điện lớn hơn tạo ra một từ trường với một tập hợp của các cuộn dây kim loại có dòng điện chạy qua chúng, đó là một nam châm điện. 
Các loại máy phát điện
Có rất nhiều loại máy phát điện. Mỗi loại đều dựa vào phương pháp sử dụng hoặc quay một dây dẫn qua một từ trường hay một nam châm qua một dây dẫn. Một số bao gồm các máy phát điện và các thiết bị sử dụng máy phát. Máy phát điện từ thủy điện tạo ra điện từ khí nóng di chuyển qua một từ trường. Trước năm 1960, xe được sử dụng máy phát điện DC với điều chỉnh điện nhưng đã được thay thế bằng máy dao điện để sạc pin và rẻ hơn. Máy dao điện là một loại máy phát tạo ra một từ trường quay và đi qua cuộn dây để tạo ra một dòng điện. Máy phát điện động cơ là sự kết hợp của máy phát điện và các công cụ được sử dụng trong động cơ piston hoặc tua bin khí, chẳng hạn như các đơn vị nhỏ cầm tay chạy bằng khí đốt để tua-bin lớn. Nhà máy thủy điện sử dụng nước rơi xuống để biến một tua-bin, cung cấp năng lượng cơ học để tạo ra điện và biến thành những máy phát điện. Dòng điện sau đó được gửi thông qua các đường dây truyền tải để cung cấp điện cho nhà hoặc công trình xây dựng. Một số thuyền buồm sử dụng nước hoặc sử dụng máy phát điện gió để sạc pin thông qua việc sử dụng các cánh quạt nhỏ, tuốc bin gió hoặc bánh công tác. Con người sử dụng năng lượng của máy phát điện trong các thiết bị như radio xách tay, đèn pin với một tay quay. Máy phát điện nhỏ được sử dụng trong ánh đèn xe đạp và được hỗ trợ bởi các tay đua.
KEYTECH
TỔNG HỢP

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Nhà máy điện mặt trời lớn nhất Trung Mỹ đi vào hoạt động

Nicaragua vừa khánh thành một nhà máy phát điện năng lượng mặt trời lớn nhất nước này cũng như của khu vực. Nhà máy điện này rộng khoảng 2,1ha, sử dụng 5.880 tấm pin năng lượng mặt trời. Dự án 12 triệu USD phần lớn được tài trợ bởi các nhà đầu tư Nhật Bản, phần còn lại do chính phủ Nicaragua hỗ trợ.

(Ảnh minh hoạ)
Giám đốc điều hành của Công ty Năng lượng quốc gia Nicaragua Salvador Mansell cho biết, đây là nhà máy phát điệnlớn nhất tại Trung Mỹ và nhiều nước Mỹ Latin, tạo điều kiện thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tái tạo.
Việc xây dựng nhà máy điện này bắt đầu từ tháng 8/2011. Dự án 12 triệu USD phần lớn được tài trợ bởi các nhà đầu tư Nhật Bản, phần còn lại do chính phủ Nicaragua hỗ trợ.
Phát biểu tại buổi lễ, Đại sứ Nhật Bản tại Nicaragua Masaharu Satu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc phát triển các nguồn năng lượng tái tạo.
Ông Satu nói: “Dự án này có mục đích nhằm tăng cường sử dụng nguồn năng lượng mới. Có một số nguồn năng lượng khác nhưng năng lượng mặt trời là nguồn chính có thể tái tạo. Gánh nặng của Nicaragua trong việc nhập khẩu dầu sẽ giảm đi nhiều. Đây là điều mà chúng tôi mong muốn”.
KEYTECH
Theo NLVN 

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

Nhà máy điện gió lớn nhất Đông Nam Á bắt đầu hoạt động

Huaybong, nhà máy điện gió lớn nhất Đông Nam Á, bắt đầu hoạt động ngày 12/2.
Nhà máy này nằm tại tỉnh Nakhon Ratchasima, cách thủ đô Bangkok 260km về phía Đông Bắc. Công ty điện lực Chubu của Nhật Bản và hai công ty Thái Lan hợp tác xây dựng nhà máy, với chi phí hơn 360 triệu USD.
Trên diện tích 37km vuông, 90 chiếc quạt gió được dựng lên và có khả năng sản xuất tổng cộng 180 nghìn kilowatt điện - sản lượng cao nhất của một nhà máy phát điện gió ở Đông Nam Á. Huaybong cũng là nhà máy điện gió quy mô đầu tiên ở Thái Lan.
Hôm 12/2, tại lễ khánh thành, Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra nói Chính phủ Thái Lan sẵn sàng ủng hộ hoạt động đầu tư mang đến nguồn năng lượng bền vững.
Cơ quan Điện lực Thái Lan sẽ mua lại điện của nhà máy này với giá cao hơn giá điện từ các nguồn không phải là năng lượng tái tạo.
KEYTECH
Theo Petrotimes

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

Năm thiết kế cải tiến để khai thác năng lượng sóng biển

Khi nhu cầu về năng lượng ngày càng tăng trên toàn thế giới, chúng ta cần phải có những khám phá mới hơn và tốt hơn về các nguồn năng lượng. Một trong những nguồn tài nguyên phần lớn chưa được khai thác cho đến bây giờ là năng lượng từ biển và sóng đại dương. Lợi thế của nguồn tài nguyên này là hoàn toàn tự nhiên, xanh và không gây ô nhiễm. Năng lượng sóng nổi lên như là "làn sóng" của ý tưởng sản xuất năng lượng. Dưới đây là năm thiết kế cải tiến để khai thác sức mạnh trong sóng biển.
1.Hệ thống Fraunhofer
a. Hệ thống
Hệ thống khai thác năng lượng sóng truyền thống là cấu trúc vĩnh cửu trên biển. Vì vậy, nó phải được xây dựng để chịu được ứng suất rất lớn. Thông qua ý tưởng từ chiếc thuyền đi biển đánh cá và quay vào bờ, hệ thống Fraunhofer sẽ trở về cảng sau khi khai thác năng lượng từ sóng biển. Phao nổi treo trên cánh tay của thân tàu dài 50m nhấp nhô lên và xuống cùng với sự chuyển động của sóng biển. Chuyển động này sẽ được tạo ra điện và được lưu trữ trong một hệ thống pin trên tàu. Trong trường hợp có bão, tất cả các phần phụ đi kèm chỉ đơn giản là ngắt kết nối và xếp gọn một cách an toàn.
b. Tiềm năng
Người ta ước tính rằng hệ thống này có thể cung cấp khoảng 20 MWh điện với chi phí 15 cent cho mỗi kWh.
2. Tuabin diều dưới nước
a. Hệ thống
Thay vì đặt các hệ thống khai thác năng lượng trên mặt nước, nó dài từ 8-14 mét, diều dưới nước hứa hẹn sử dụng sự kết hợp của gió và sóng. Những cánh diều này có cánh quạt quay khi thủy triều đi qua. Cũng giống như thuyền buồm thu thập động lực và tốc độ bằng cách cắt ngang qua những cơn gió, sự chuyển động nhào xuống của diều đã khuếch đại tốc độ nước lên đến 10 lần. Diều đã được thiết kế với sức nổi trung bình để giữ cho chúng có thể nổi và có nắp đậy để bảo vệ các tuabin từ cá biển.
b.Tiềm năng
Khi được triển khai trong vùng biển có độ sâu từ 50-300m, những con diều này hứa hẹn tạo ra khoảng 150-800kW điện, tùy thuộc vào vị trí và kích thước.
3. Tế bào mặt trời nổi trên biển
a. Hệ thống
Đây là máy phát điện hỗn hợp sử dụng năng lượng mặt trời và năng lượng sóng. Các phao được gắn hệ thống quang điện thu nạp năng lượng mặt trời và sự nổi tự nhiên của phao thu nạp năng lượng của sóng.
b. Tiềm năng
Sử dụng ánh sáng tự nhiên và sự nổi tự nhiên này làm tăng 20% năng lượng thu được so với chỉ có một hệ thống được triển khai tại một thời điểm.
4. Thiết bị kiểu hàu biển (Oyster Machine)
a. Hệ thống
Chúng ta sẽ gọi phát minh này như là 'viên ngọc' của sự sáng tạo. Oyster là một bộ máy khổng lồ, có hình dạng như con hàu nằm nghỉ ngơi dưới đáy đại dương và đáy biển. Thiết bị sử dụng công nghệ thủy lực, nó chuyển năng lượng sóng vào bờ thành điện. Chiều rộng dao động khoảng 18mét được lắp với piston. Nó được kích hoạt bởi sóng và máy bơm nước thông qua một đường ống dưới biển.
b. Tiềm năng
Theo nghiên cứu sơ bộ, 10 thiết bị kiểu hàu có thể cung cấp cho nhu cầu điện của 3000 hộ gia đình. Bản chất 'xanh' của máy phát điện đảm bảo tiết kiệm gần 500 tấn carbon hàng năm.
5. Phao nPower WEC
a. Hệ thống
Nó tương tự như cơ chế hoạt động của diều dưới nước. Hệ thống được neo vào đáy đại dương và các phao nổi trên bề mặt. Chuyển động nhấp nhô tạo ra điện thông qua các tuabin. Các phao sẽ được lắp đặt thành các cụm và theo thứ tự.
b. Tiềm năng
Máy phát điện được đánh giá hoàn toàn khả thi về mặt thương mại. Người sáng lập và cũng là giám đốc điều hành, Aaron Lemieux phát biểu “ Các cụm máy phát điện trên sẽ cạnh tranh với các nhà máy phát điện dựa vào than đá. Điện sẽ rất rẻ và sẽ có giá chỉ khoảng 5 đến 7 cent cho mỗi kilowatt giờ”.
Những hạn chế của năng lượng sóng
Khi đề cập đến năng lượng sóng người ta đề cập đến các chi phí liên quan. Đó là chi phí sản xuất và chi phí lắp đặt để tạo ra điện từ sóng, có thể là dưới nước hoặc trên bề mặt của nước. Một thách thức là thiết bị rất dễ bị gỉ và ăn mòn. Tiếp xúc với nước muối, nguy cơ hư hỏng là rất cao. Các thiết bị khi chế tạo cần có khả năng chịu được bão và thời tiết khắc nghiệt. Lắp đặt nước ngọt (như ở các hồ) có thể không phải chịu ăn mòn khắc nghiệt nhưng chúng cũng đòi hỏi những yêu cầu nhất định trước khi lắp đặt. Một số nơi trên thế giới hoàn toàn khả thi khi lắp đặt hệ thống này như bờ biển phía Tây của Mỹ và bờ biển của Nam Phi, Chile và Australia. Nếu không, chi phí có thể lớn hơn lợi nhuận.
KEYTECH
Theo NLVN

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

10 công trình năng lượng xanh lớn nhất thế giới

Vừa có công suất lớn, vừa có ít tác động xấu nhất tới môi trường - đó là những tiêu chí cần thiết để một công trình năng lượng tái tạo có mặt trong danh sách này. Đó cũng là câu trả lời cho bạn đọc nếu không thấy có tên đập Thủy điện Tam Hiệp (Trung Quốc) hay một nhà máy năng lượng hạt nhân nào dưới đây
1. Tổ hợp Nhà máy Điện địa nhiệt Geysers - California, Mỹ
Tổ hợp nhà máy điện địa nhiệt phức tạp lớn nhất thế giới, Geysers, nằm trên dãy núi Mayacamas thuộc miền Bắc California - một trong hai nơi trên hành tinh sử dụng hơi khô. Geysers là một tổ hợp công trình bao gồm 22 nhà máy điện địa nhiệt, sử dụng hơi nước nóng từ hơn 350 giếng để các turbine phát điện với công suất lắp đặt 1.517MW. Geysers cung cấp đủ cho nhu cầu dùng điện của 1,1 triệu người.
Hiện có khoảng 12GW công suất điện địa nhiệt được lắp đặt trên toàn thế giới, tập trung chủ yếu ở Mỹ (hơn 3GW) và Philippines, Indonesia.
Một nhà máy trong tổ hợp Nhà máy Điện địa nhiệt Geysers, California, Mỹ
2. Trang trại gió Roscoe - Texas, Mỹ
Có quy mô 100 arce (khoảng 405 km2, bằng 1/5 diện tích TP Hồ Chí Minh), trải rộng trên 4 hạt của bang Texas, Roscoe là trang trại gió trên bờ lớn nhất thế giới. Với 627 turbine gió, Roscoe có tổng công suất lắp đặt trên 781MW, đủ đáp ứng nhu cầu dùng điện của 250.000 hộ gia đình.
3. Nhà máy Điện sinh khối Tilbury - Tilbury, Anh
Nhà máy phát điện sinh khối lớn nhất thế giới Tilbury, có công suất 750MW, vốn là nhà máy điện chạy bằng than, từ năm 2011 được chuyển sang chạy bằng gỗ nghiền có thể tái tạo, như là một cách làm để nước Anh góp phần chống biến đổi khí hậu.
4. Trang trại gió Walney - Cumbria, Anh
Ngày 9/2/2012 được coi là cột mốc đánh dấu trang trại gió lớn nhất thế giới ngoài khơi biển Ireland bắt đầu đi vào hoạt động sau một quá trình thi công nhanh kỷ lục. 102 turbine thuộc hai trang trại gió nối tiếp Walney trải trên diện tích 73km2 đã chính thức kết nối lưới điện quốc gia Anh. Với công suất 367,2MW, dự án khổng lồ này hứa hẹn sẽ cung cấp nguồn điện năng “xanh”, carbon thấp cho khoảng 320.000 hộ gia đình.
5. Hệ thống nhà máy điện mặt trời SEGS - California, Mỹ
Là cơ sở tạo năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới, SEGS bao gồm 9 nhà máy điện năng lượng mặt trời ở sa mạc Mojave của California, với tổng công suất lắp đặt 354MW. Ngoài ra các turbine phát điện còn có thể vận hành vào ban đêm bằng khí đốt. Theo NextEra, các nhà máy điện này hằng năm có thể cung cấp điện cho 230.000 hộ gia đình và giảm 3.800 tấn khí thải gây ô nhiễm.
6. Nhà máy Điện thủy triều Sihwa - Hàn Quốc
Nhà máy Điện thủy triều Sihwa bắt đầu được đưa vào vận hành cuối tháng 8/2011. Nhà máy được xây trên một khu đất rộng 140 nghìn m2, với 10 động cơ turbine 25,4MW và 8 cửa cống đã được lắp đặt ở phần dưới của nhà máy phát điệncao 15 tầng. Đường kính của máy phát điện chạy bằng turbine lên tới 14m và chiều dài cánh quạt là 7,5m. Những máy phát điện chạy bằng turbine khổng lồ này sản xuất ra 254 nghìn kW điện một ngày và 552,7 triệu kW điện một năm, đưa sản lượng điện của Nhà máy Điện Sihwa vượt qua Nhà máy Điện La Rance của Pháp và trở thành nhà máy điện thủy triều lớn nhất thế giới với hiệu suất năng lượng 544 triệu kW/năm. Lượng điện này đủ để cung cấp cho 500 nghìn hộ gia đình.
Với dự án Sihwa, Hàn Quốc đang thực hiện giai đoạn đầu của kế hoạch biến bờ biển phía tây nước này thành vành đai nhà máy điện thủy triều lớn nhất thế giới.
7. Nhà máy Điện năng lượng mặt trời Solnova - Tây Ban Nha
Nhà máy Điện Solnova là nhà máy điện sử dụng công nghệ năng lượng mặt trời tập trung (CSP) lớn nhất thế giới. Nhà máy gồm 5 trạm phát điện, mỗi trạm công suất 50MW, do Công ty Abengoa sở hữu và điều hành. Các trạm phát điện sử dụng máng parabol tập trung phản xạ tuyến tính Fresne để tập trung một khu vực rộng lớn của ánh sáng mặt trời vào một chùm nhỏ. Nhiệt tập trung sau đó được sử dụng như một nguồn năng lượng cho các nhà máy điện. Tuy nhiên, ở Solnova, một số trạm phát điện được trang bị thêm để có thể sử dụng khí đốt như một nguồn nhiên liệu thứ cấp để sản xuất điện.
8. Nhà máy Điện thủy triều Le Rance - Brittany, Pháp
Ngay từ năm 1963, nước Pháp đã phát triển nhà máy điện thủy triều đầu tiên trên thế giới ở La Rance. Nhờ kết nối thành công với hệ thống đường dây tải điện vào năm 1967, với công suất 240MW mỗi năm, nhà máy này có thể cung cấp tới 600GWh điện, đưa nước Pháp vươn lên dẫn đầu thế giới suốt nhiều thập kỷ về dạng năng lượng này, đồng thời, thu hút khoảng 200.000 khách du lịch mỗi năm. Sau gần 40 năm “tại vị”, La Rance đã nhường lại vị trí là nhà máy điện thủy triều lớn nhất thế giới cho Nhà máy Điện thủy triều Sihwa (Hàn Quốc).
9. Nhà máy Điện năng lượng mặt trời Andasol - Andalusia, Tây Ban Nha
Andasol là nhà máy điện năng lượng mặt trời máng parabol được đưa vào vận hành thương mại đầu tiên tại châu Âu. Nằm trên vùng núi Andalusia, ở độ cao trung bình 1.100m so với mực nước biển, hơn 600.000 tấm gương parabol của nhà máy có điều kiện để thu nhận ánh sáng mặt trời tốt hơn so với toàn bộ bán đảo Arập Xêút. Với diện tích lớn tương đương 210 sân bóng đá và công suất 150MW, Andasol có thể đáp ứng nhu cầu năng lượng cho nửa triệu người.
Bên cạnh đó, nhờ sử dụng công nghệ lưu giữ nhiệt lượng thu được từ mặt trời bằng muối nóng chảy ở nhiệt độ trên 1.000 độ F, sau đó, số nhiệt lượng được lưu giữ này lại biến nước thành hơi nước quay turbine phát điện, Andasol có thể tiếp tục phát điện trong khoảng thời gian từ 8-10 tiếng đồng hồ sau khi mặt trời lặn.
10. Dự án điện thẩm thấu của Statkraft - Tofte, Na Uy
Dự án nhà máy điện “đặc biệt” này được xây dựng bên bờ vịnh Oslo, cách thủ đô Oslo của Na Uy khoảng 60km về phía nam và do Tập đoàn Statkraft, công ty năng lượng tái sinh lớn nhất châu Âu, quản lý.
Nguyên tắc hoạt động chủ yếu của nhà máy là lấy năng lượng thẩm thấu dựa trên hiện tượng thẩm thấu rất phổ biến trong tự nhiên thường được biết đến qua sự hấp thụ nước của cây xanh. Khi nước ngọt và nước biển tiếp xúc với nhau qua một lớp màng mỏng, được dùng để giữ lại muối, nước ngọt sẽ chảy về phía nước biển. Khi đó, dòng chảy của nước ngọt sẽ tạo áp lực lên phía dòng chảy của nước biển và chính áp lực này làm quay turbine, sản xuất ra điện năng. Với số vốn đầu tư lên tới 26,8 triệu USD, Statkraft hy vọng nhà máy điện này sẽ đạt công suất 25MW, đủ cung cấp điện năng cho khoảng 10 nghìn hộ gia đình vào năm 2015.
Theo Statkraft, tiềm năng toàn cầu của năng lượng thẩm thấu có thể đạt tới khoảng 1.600-1.700 TWh mỗi năm, tương đương với tổng lượng điện tiêu thụ của Trung Quốc.
KEYTECH
Theo Petrotimes

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2013

Thế giới và vấn đề phát triển thủy điện

Theo Hội đồng Năng lượng Quốc tế (WEC), thủy điện đang đóng góp 20% tổng công suất điện năng trên toàn thế giới, tương đương 2.600 TWh/năm. Với các lợi thế như: không tiêu thụ nhiên liệu, không xả ra khí thải độc hại, tuổi thọ các nhà máy thuỷ điện lớn… Tuy nhiên, sau một thời gian dài phát triển, nguồn năng lượng vốn được đánh giá là sạch này đang dần bộc lộ những tác hại khôn lường cho cả môi trường tự nhiên lẫn con người.
Nguồn điện quan trọng và đầy tiềm năng của con người
Từ hơn 2.000 năm trước, người Hy Lạp cổ đại đã biết khai thác sức nước bằng việc sử dụng các bánh xe guồng nước để xay gạo. Năm 1880, nhà phát minh người Mỹ Lester A. Pelton khám phá ra nguyên lý phát điện từ sức nước trong một chuyến thăm mỏ khai thác vàng gần nhà. Những người thợ mỏ đã đặt các guồng quay bằng gỗ bên dòng suối. Nước chảy làm quay trục guồng, từ đó làm quay những chiếc cối xay đá sa khoáng chứa vàng.
Do nắm rõ nguyên lý phát điện từ những chiếc trục quay, không khó để nhà khoa học này thay chiếc guồng gỗ bằng mộtmáy phát điện. Chỉ hai năm sau, nhà máy thủy điện đầu tiên trên thế giới được H.J. Rogers xây dựng tại bang Wisconsin (Hoa Kỳ), mở ra một kỷ nguyên thủy điện cho nhân loại.
Nếu như nhiệt điện phải đốt nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí đốt) gây ô nhiễm môi trường, còn điện hạt nhân luôn khiến con người vừa dùng vừa run vì lý do an toàn, thì thủy điện được coi là nguồn năng lượng sạch nhất và an toàn nhất. Lợi dụng sức mạnh của dòng nước đổ xuống từ trên cao để làm quay các tua bin, từ đó sản sinh ra điện, thủy điện không cần đến nhiên liệu hay chất phóng xạ. Do đó, những quốc gia có địa hình thuận lợi cho việc phát triển thủy điện đều tận dụng tối đa cơ hội của mình. Các nhà máy thủy điện được xây dựng khắp nơi trên thế giới, với đủ mọi loại công suất từ lớn đến nhỏ.
Theo Hội đồng Năng lượng Quốc tế (WEC), thủy điện đang đóng góp 20% tổng công suất điện năng trên toàn thế giới, tương đương 2.600 TWh/năm. Na Uy là nước mà 100% điện năng được sản xuất từ thủy điện. Những nước có thủy điện chiếm hơn 50% cũng rất nhiều, như: Icela (83%), Áo (67%). Canada hiện là nước sản xuất thủy điện lớn nhất thế giới, với tổng công suất gần 400 nghìn GWh, đáp ứng hơn 70% nhu cầu nước này. Tiềm năng của nguồn điện xanh này còn rất lớn, bởi WEC đã ước tính, trên toàn cầu, công suất thủy điện có thể đạt đến 14.400 TWh/năm.
Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là không tiêu thụ nhiên liệu và xả ra khí thải độc hại. Điều đó khiến chúng không hề bị ảnh hưởng bởi sự tăng giá không ngừng của nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí thiên nhiên hay than đá. Các nhà máy thuỷ điện cũng có tuổi thọ lớn hơn các nhà máy nhiệt điện.
Một số nhà máy thuỷ điện đang hoạt động hiện nay trên thế giới đã được xây dựng từ 50 - 100 năm trước. Chi phí nhân công thấp vì các nhà máy này được tự động hoá gần như hoàn toàn, có rất ít người làm việc tại chỗ trong quá trình vận hành thông thường.
Những nhược điểm của thủy điện
Cùng với những lợi ích to lớn, qua thời gian, các mặt trái của thủy điện cũng liên tục được bộc lộ. Thật nực cười là đặc điểm được ca ngợi nhiều nhất của thủy điện cũng lại chính là nhược điểm lớn nhất của nó: Môi trường. Thủy điện không tiêu thụ nhiên liệu, không xả ra khí thải độc hại với môi trường, nhưng nó cũng tàn phá nặng nề môi trường sinh thái ở một số phương diện khác.
Do hoạt động nhờ biến thế năng của nước thành động năng, từ đó chuyển thành điện năng, nên nhà máy thủy điện thường được đặt trên phía thượng nguồn, thuộc vùng đồi núi và phải có hồ chứa nước. Những hồ chứa bao la này nhấn chìm rất nhiều diện tích rừng đầu nguồn. Đặc điểm sinh thái, cảnh quan thiên nhiên của cả khu vực bị biến đổi theo hướng xấu đi.
Môi trường sống của các loài động thực vật bị phá hủy hoặc thay đổi khiến chúng cũng dần biến mất. Yếu tố đa dạng sinh học gần như không còn. Các con đập khiến nước không còn được lưu thông một cách tự do từ thượng nguồn xuống hạ lưu, tạo nên các đoạn sông chết trước con đập. Thảm thực vật bị phân hủy trong tình trạng ngập nước dưới đáy hồ khiến sản sinh ra khí metan, một loại khí nhà kính nguy hiểm.
Nếu cá không chết bởi những loại khí độc như thế, thì chúng cũng chết khi đi qua các tua bin nước. Theo thống kê của Quỹ Hoang dã Quốc tế (WWF), 60% trong số 227 con sông lớn nhất đã bị phân đoạn nặng nề, trong đó các đập nước (gồm có đập thủy điện) được xem là có trách nhiệm lớn nhất.
Từ cách xa công trình hàng trăm kilomet, những người dân vùng hạ lưu cũng trở thành nạn nhân. Các con đập đã ngăn chặn mất của họ dòng phù sa màu mỡ và các loài thủy sản. Mặc dù có chức năng điều tiết lũ và chống hạn hán, nhưng các nhà máy thủy điện thường tích xả nước trước tiên là vì lợi nhuận và sự an toàn của chính bản thân mình.
Những vụ xả hồ chứa bất ngờ để chống quá tải đập trước một cơn lũ bất ngờ (hoặc do dự báo kém chính xác) gây lũ lụt cho toàn vùng hạ lưu, cuốn trôi nhà cửa, tài sản, hoa màu và cướp đi sinh mạng của nhiều người. Đối với người dân vùng hạ lưu, các hồ chứa hàng triệu, trăm triệu, thậm chí hàng tỷ mét khối nước trên thượng nguồn thực sự là những trái bom lơ lửng trên đầu. Ngược lại, vào những năm hạn hán, nước đầu nguồn bị tích lại trong các hồ chứa khiến vùng hạ lưu cạn khô nước sinh hoạt và sản xuất, đẩy người dân đối mặt với vô vàn khó khăn.
Danh sách tội trạng của thủy điện mỗi năm một dài thêm. Ngày 12/5/2008, một trận động đất mạnh 7,8 độ richter xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) khiến gần 100 nghìn người chết hoặc mất tích. Hai phần ba tỉnh thủ phủ vùng Tây Nam Trung Quốc này bị phá hủy hoàn toàn. Thảm họa này một lần nữa củng cố cho quan điểm của các nhà khoa học về việc thủy điện là nguyên nhân gây ra động đất. Tâm chấn của trận động đất Tứ Xuyên nằm khá gần 2 nhà máy thủy điện lớn của nước này là Tam Hiệp và Zipingpu. Hàng tỉ mét khối nước trong hồ chứa của các thủy điện này đã tạo áp lực cực lớn lên địa tầng khu vực, khiến đới đứt gẫy địa chất hoạt động, gây ra trận động đất kinh hoàng.
Các tranh cãi vẫn còn tiếp tục, nhưng có một thực tế không thể phủ nhận rằng, cho dù không gây ra động đất, nhưng một khi động đất xảy ra, các đập thủy điện vỡ sẽ khiến toàn vùng hạ lưu biến thành biển nước trong vài giờ. Không nhiều người có cơ may sống sót trong những thảm họa như thế.
KEYTECH
Theo NLVN